“Từ ngữ xưng hô trong tiếng Hán hiện đại (đối chiếu với tiếng Việt)

Từ ngữ xưng hô trong tiếng Hán hiện đại (đối chiếu với tiếng Việt)” của PGS.TS. Phạm Ngọc Hàm

Xưng hô bao gồm các từ ngữ xưng hô và lối xưng hô là một phần không thể thiếu trong hệ thống từ vựng và trong giao tiếp của bất kì ngôn ngữ nào. Đối với tiếng Hán và tiếng Việt, xưng hô là một trong những đặc điểm nổi bật của hai ngôn ngữ này. Nổi bật vì lớp từ ngữ xưng hô trong Tiếng Hán và Tiếng Việt rất phong phú, phản ánh đầy đủ, tương ứng với cách phân chia từng vai cụ thể của con người trong gia đình hay ngoài xã hội. Khi vận dụng vào trong giao tiếp, các từ ngữ dùng để xưng hô luôn phản ánh thái độ của người tham gia giao tiếp, hình thành một chiến lược giao tiếp- xưng hô. Điều này cũng phản ánh sâu sắc đặc trưng văn hóa, lối tư duy của mỗi dân tộc. Đây là lý do giải thích vì sao xưng hô từ trước đến nay luôn là một đề tài nghiên cứu thu hút sự quan tâm của giới Hán ngữ học và Việt ngữ học. Vì thế, lịch sử nghiên cứu về xưng hô có cả một bề dày với những thành quả đạt được rất đáng kể. Tuy nhiên, nghiên cứu theo hướng đối chiếu một cách có hệ thống lớp từ ngữ dùng để xưng hô trong tiếng Hán và tiếng Việt, thì có thể coi đây là công trình đầu tiên.

Cuốn sách gồm 9 chương được sắp xếp theo trình tự nội dung như sau:

Chương 1Điểm qua về nghiên cứu xưng hô trong tiếng Hán và tiếng Việt”, trình bày một cách khái quát về tình hình nghiên cứu từ ngữ xưng hô của giới Hán ngữ học và Việt ngữ học. Chương 2Một số vấn đề lý luận chung về xưng hô trong giao tiếp”, trình bày bốn nội dung cơ bản mang tính lý thuyết về xưng hô là: quan niệm về xưng hô và phương thức biểu hiện xưng hô; xưng hô với đặc trưng văn hóa dân tộc; sự xuất hiện tất yếu của từ ngữ xưng hô trong hệ thống ngôn ngữ; tính lịch sự và vấn đề xưng hô. Chương 3 “ Xưng hô bằng đại từ nhân xưng” khảo sát cụ thể các đại từ nhân xưng dùng để xưng gọi gồm 我,你/您,他/她,人家,自己ở các mặt như khả năng kết hợp cách sử dụng trong đời sống cũng như trong văn học. Mỗi đại từ nhân xưng này đều được miêu tả cụ thể và có so sánh, đối chiếu với các từ ngữ tương đương trong tiếng Việt. Chương 4 khảo sát “Xưng hô bằng từ xưng hô thân tộc” với quan điểm bắt nguồn từ huyết thống, hôn nhân và pháp luật, xưng hô bằng từ thân tộc được xem xét từ ba bình diện: xác định khái niệm thân tộc và từ xưng hô thân tộc; những từ thân tộc dùng để xưng hô trong gia đình theo quan hệ huyết thống (trực hệ, bàng hệ) và xưng hô phỏng theo xưng hô dân tộc (tức là sự chuyển hóa của một số từ xưng hô thân tộc sang xưng hô ngoài xã hội). Không chỉ đưa ra một danh sách các từ thân tộc được sử dụng trong xưng hô mà bằng phương pháp phân tích thành tố nghĩa, các nét nghĩa của mỗi từ lần lượt được xác định. Từ đó có thể nhận ra những tương đồng và khác biệt giữa các từ xưng hô thân tộc trong tiếng Hán và trong tiếng Việt. Chương 5Xưng hô bằng họ tên” được xác định trên cơ sở về đặc điểm của họ tên người Hán. Chính đặc điểm này đã góp phần làm nên khả năng kết hợp của họ tên trong tổ hợp xưng hô cũng như những sắc thái nghĩa khi sử dụng tên trong xưng hô giữa tiếng Hán và tiếng Việt. Chương 6 “Xưng hô bằng từ chỉ nghề nghiệp chức vụ và các từ xưng hô thông dụng” cung cấp một danh sách các từ chỉ nghề nghiệp chức vụ dùng để xưng hô trong tiếng Hán. Từ đó, miêu tả cách sử dụng chúng trong giao tiếp xưng hô, trong đó tập trung vào làm rõ cách sử dụng một số từ xưng hô thông dụng là: 同志,太太,先生,小姐 trong xã hội Trung Quốc. Chương 7 khảo sát “ Hoạt động từ ngữ xưng hô trong tiếng Hán” trong các môi trường giao tiếp khác nhau bao gồm xưng hô trong gia đình và xưng hô ngoài xã hội. Lấy gia đình làm hạt nhân, gồm vợ - chồng, cha mẹ - con cái làm nền tảng, xưng hô trong gia đình tập trung vào khảo sát xưng hô giữa các cặp vợ chồng thuộc lứa tuổi khác nhau, xưng hô giữa cha mẹ và con cái gắn với tuổi tác và giới tính. Lấy giao tiếp quy thức làm đối tượng, xưng hô ngoài xã hội tập trung vào khảo sát xưng hô trong giao tiếp hành chính với các vai khác nhau gồm xưng hô giữa thủ trưởng và nhân viên, giữa các đồng nghiệp với nhau. Chương 8 khảo sát “Các nhân tố tác động đến xưng hô” trong giao tiếp của tiếng Hán gồm tâm lý người sử dụng, các nhân tố như tuổi tác, vị thế, động cơ tác động đến việc lựa chọn xưng hô cũng như lối xưng hô. Chương 9Sự giống nhau và khác nhau giữa xưng hô trong tiếng Hán và xưng hô trong tiếng Việt” hệ thống hóa và phân tích 13 nét tương đồng và 12 nét khác biệt trong phương thức biểu thị xưng hô giữa tiếng Hán và tiếng Việt.

Có thể nói, cuốn sách Từ ngữ xưng hô trong tiếng Hán hiện đại (đối chiếu với tiếng Việt) là một công trình nghiên cứu khoa học mà Tiến sĩ Phạm Ngọc Hàm đã dành trọn cả thời gian và tâm lực trong suốt nhiều năm qua. Trên cơ sở khái quát, hệ thống hóa những vấn đề lý luận có liên quan đến xưng hô trong giao tiếp ngôn ngữ, tác giả đã tiến hành khảo sát lớp từ ngữ dùng để xưng hô của tiếng Hán trên hai bình diện cấu trúc hệ thống và hành chức. Cùng với việc khảo sát, ở mỗi nội dung, tác giả lại đối chiếu với tiếng Việt, chỉ ra những điểm giống và khác nhau giữa chúng. Việc đối chiếu này rất hữu ích đối với công việc dạy – học tiếng Hán và tiếng Việt với tư cách là ngoại ngữ cũng như biên phiên dịch song ngữ  Hán - Việt.

Với kết quả thu được, có thể khẳng định rằng, cuốn sách này là chuyên khảo đầu tiên miêu tả và đối chiếu một cách hệ thống lớp từ xưng hô giữa hai ngôn ngữ Hán và Việt. Nó xứng đáng là công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, có giá trị khoa học và là một tài liệu giảng dạy cũng như tham khảo cần thiết cho chuyên ngành ngữ văn mà trực tiếp là tiếng Hán và tiếng Việt ở bậc đại học và sau đại học (thạc sĩ và tiến sĩ) cũng như đối với những ai quan tâm đến vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ văn hóa giữa tiếng Hán với tiếng Việt nói riêng, tiếp xúc ngôn ngữ văn hóa giữa các ngôn ngữ nói chung.

                                                          Hà Nội, tháng ba năm 2008

Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Văn Khang

            Viện Ngôn  ngữ học